1. Xin chào Guest trong quá trình sử dụng diễn đàn nếu có lỗi gì hoặc ý kiến nào bạn vui lòng gửi thông tin cho tôi tại bài viết NÀY nhé.

Những đứa trẻ ở cảng biển Frieden

Discussion in 'Project Original Novel' started by Mosereiy, Jun 18, 2017.

  1. Mosereiy

    Mosereiy New Member

    Thể loại : tiểu thuyết, cuộc sống đời thường.
    Link dẫn đến topic thảo luận :
    https://bbs.valvrareteam.com/thao-luan-nhung-dua-tre-o-cang-bien-frieden.t12.html
    Tóm tắt :

    Đúng như tựa đề của nó, đây là một câu chuyện không ngắn nhưng cũng không quá dài, kể về mấy đứa nhỏ với các tình huống dở khóc, dở cười của chúng ở cái cảng Frieden bình yên nhưng cũng chân thật đến rợn người này.
    .
    "Thôi thì ta cũng nhau im lặng một phút. Lắng nghe âm thanh sóng biển va vào bến hòa huyện với âm thanh từ hộp nhạc bé xinh đang quay đều trên chiếc bàn làm việc nhỏ nhắn của bác Johnson ở bên kia. Anh chắc chắn rằng, mấy đứa sẽ cảm thấy lòng mình dễ chịu hơn dù mấy đứa đã phải làm việc thật sự vất vả mấy ngày qua."
    "Nhưng anh biết đấy, ta chẳng thể nào nghe được tiếng hộp nhạc nếu ta ngồi ở đây. Còn khi ta đi vào trong, ta lại chẳng thể nghe được tiếng sóng biển."
    "Em chắc chứ?"
    .
    .
    .
     
    Last edited: Jun 19, 2017
    DokiDoki and GoD. like this.
  2. Mosereiy

    Mosereiy New Member

    Chương 1. Cảng Frieden và lũ ranh con chết tiệt ( phần 1 ).
    Cảng, nhắc tới cảng là ta chắc hẳn phải nghĩ tới nơi mà các thủy thủ đoàn quả cảm quy tụ về sau bao chuyến chu du đó đây khắp miền đại dương rộng lớn ngoài kia. Chưa kể đến là những con tàu khổng lồ lướt trên những con sóng lớn để vận chuyển những thùng hàng và thùng dầu từ những thành phố ở tít phía chân trời kia về đây. Và cảng Frieden, một bến cảng không nhỏ nằm ở phía Bắc trên một hòn đảo thuộc Anh Quốc, hay còn được gọi là mái nhà chung của những con người yêu tự do và muốn có một cuộc đời yên ổn.

    Tại sao cảng Frieden lại được gọi như thế? Bởi lẽ, trong khoảng thời gian tính từ thời điểm bây giờ lùi về mười năm trước, chiến tranh đã liên tục diễn ra ở các nước lớn ở Châu Âu. Chắc chắn Anh Quốc không phải là một ngoại lệ. Ấy thế nhưng vì ở cảng Frieden đã được xây dựng một nhà thờ với cái tên là Licht, tức ánh sáng. Mỗi đất nước đều cần phải có một bến cảng để xây dựng lên một nhà thờ cho sự hòa bình, nghĩa là theo hiệp ước chiến tranh, không ai được phép xâm hại đến khu vực chứa chấp nhà thờ đó cả. Và may mắn thay, cảng Frieden là nơi được chọn để trở thành biểu tượng hòa bình cho Anh Quốc.

    Cũng nhờ điều đó mà Anh Quốc và Đức đã hợp tác với nhau về mặt quân lực và cả về mặt hàng hóa, thực phẩm. Bởi lẽ, Anh Quốc đã cho thuê một kĩ sư tài ba người Đức, Karl Daimler, xây dựng nên nhà thơ Licht. Song, Đức lại là một nước có thực lực, việc hợp tác với Đức sẽ mang lại những thuận lợi và giảm thiểu lại mất mát của chiến tranh gây ra cho cả hai bên. Và để chấp nhận điều kiện của Anh Quốc, Đức đã yêu cầu Anh Quốc để cảng Frieden là do Đức sở hữu, còn việc đứng tên thì vẫn để cho Anh Quốc. Đó thực sự là một sự tham lam không nhỏ của bên Đức. Cuộc đàm phán đã kéo dài lên tới mười lăm ngày và chốt lại với kết quả là cả đôi bên cùng sở hữu và đứng tên. Do Đức sở hữu một phần hai bến cảng, nên việc một phần hai cư dân ở đó có quốc tịch là Đức cũng là điều tất yếu.

    Đa số, các cư dân bản địa không có cảm tình gì với lũ người ngoại quốc. Và ngược lại, những con dân Đức cũng chẳng muốn có quan hệ mật thiết gì với lũ người Anh Quốc cả. Trong con mắt của những người bản xứ, lũ Đức là một lũ man rợ, bạo mồm, bạo dạ, chẳng có phép tắc hay là trật tự gì cả. Còn trong con mắt của những người ngoại quốc, phía Anh Quốc toàn là lũ rô-bốt được lập trình để làm những gì mà thượng đế giao cho, không hơn không kém. Nhưng trong số nhiều sẽ có số ít. Tuy không nhiều, nhưng việc các đôi nam nữ sinh ra ở hai đất nước tưởng chừng như ghét nhau này lại tồn tại. Họ yêu nhau, bất chấp mọi rào cản để đến với nhau. Rồi họ kết hôn, hưởng tuần trăng mặt của mình trên mặt hồ Manii, một cái hồ tuyệt đẹp với mặt nước lấp lánh những vì sao vào mỗi buổi tối, khi mà mặt trời đã khuất khỏi những áng mây mỏng để lại một mảng không gian mập mờ ánh trăng.

    Và họ đã đến phần tất yếu trong các cuộc hôn nhân, họ đã có con, những đứa con lai xinh đẹp mang trong mình dáng hình xinh đẹp, quý phái của mẹ và một tâm hồn quả cảm, mạnh mẽ của cha. Những đứa trẻ này lớn lên rất bình thường và đặc biệt rất thông minh. Nhưng xã hội lại không chấp nhận chúng. Họ muốn làm theo ý của mình, đó chính là người Đức cưới người Đức, sinh ra những đứa trẻ mang dòng máu xứ Đức. Còn người Anh thì cưới người Anh, sinh ra những đứa trẻ mang dòng máu nước Anh. Không hôn nhân ngoại quốc, không con lai, không phá đi định kiến của xã hội. Thế là họ, những phụ huynh, bậc cha mẹ của những đứa con lai bị ép phải ly hôn, không được gặp mặt nhau và từ bỏ đứa con của mình. Hoặc là họ có thể tình nguyện để bị giam cầm trong nhà lao và đứa con của họ sẽ được chăm sóc tận tụy.

    Với những lựa chọn hẹp hòi như thế, họ đã chấp nhận hy sinh đời mình để cho con mình có một cuộc sống tốt đẹp hơn là chơi vơi ngoài đường vào đêm giao thừa lạnh giá. Nhưng nào ngờ, những đứa trẻ đó đều bị ném ra ngoài đường, dù là một, hai hay ba tuổi. Thậm chí là lúc mới sinh ra. Còn những người có công sinh thành chúng, lại bị mang đến các trại huấn luyện quân sự hoặc là đến các nhà thờ để học về “tình yêu thật sự”.

    Đó là hiện thực, một hiện thực tàn khốc.

    Và đó cũng là một bước ngoặc để cho tôi, một nhà văn nghiệp dư, viết nên cuốn tiểu thuyết nho nhỏ này, nói về những câu chuyện mà thôi đã tận mắt chứng kiến ở cái chốn tưởng chừng như bình yên này . . .

    .

    .

    .

    - ĐỨNG LẠI !!! LŨ RANH CON TRỘM CẮP ĐÁNG NGUYỀN RỦA !!!

    Một ông chú mập thù lù, râu ria bừa bộn và nhiều đến mức che đi cả cái miệng đang chửi bới của ông ta, khoác trên mình bộ quần yếm chạy ra khỏi quầy hàng bánh mì mà ông ta đang đứng.

    - CHẾT TIỆT !!!

    Ông ta biết mình không thể nào có thể bắt kịp được lũ nhỏ nhanh nhảu nên cứ đứng đó, dậm chân, la hét và chửi rủa lung tung, khiến cho người ta nhìn vào vừa cảm thấy phiền, vừa cảm thấy thú vị.

    - Thôi nào ông bạn, tôi sẽ đền cho ông những ổ bánh mì khác. – người chủ quầy bánh mì từ tốn nói – Đây này, ba cái bánh mì vừa ra lò như ban nãy của ông bạn.

    Người chủ quầy đưa cái bọc đựng bánh mì đưa cho ông chú mập ú kia, miệng nở một nụ cười thân thiện. Ông ta nhận lấy bọc bánh mì, mắt như rưng rưng rồi vội bắt lấy tay của người đối diện ấy.

    - Cảm ơn anh nhiều lắm. Tuy tôi rất bực mình với lũ trẻ đó, nhưng mà cũng thật may là có anh, không thì tôi cũng chẳng biết làm sao với cái bụng đang reo âm ĩ của tôi bây giờ.

    Cách ông ta vừa nói, vừa đưa tay xoa xoa cái bụng phệ của mình khiến cho ông chú chủ quầy xém nữa phì cười. Rồi lão béo phệ quay bước đi, không quên vẫy tay chào người chủ quầy đang bước ra khỏi chỗ làm việc để châm một điếu thuốc.

    .

    .

    .

    - Hộc . . . hộc . . .

    Ba đứa trẻ, một đứa cầm một bọc bánh mì và hai đứa kia lạch bạch chạy theo sau, thở dốc sau khi chạy liên tục hơn trăm mét. Chúng luồn lách sâu vào bên trong những con hẻm tối tăm, chỉ có dăm ba tia nắng luồn qua được những mái gạch vụn vỡ. Nghĩ giải lao xong, chúng tiếp tục đi vào cái hẻm cuối cùng. Chỗ này rộng hơn, sáng hơn những chỗ mà chúng phải bang qua nãy giờ. Ở đó, có tầm khoảng năm đứa trẻ khác đang ngồi bẹp dưới đống giấy bìa trải đầy trên đất.

    - Mấy đứa, thức ăn nè !

    Tụi nhỏ đang ngồi đó, nghe giọng người quen, chúng mừng rỡ ùa ra chỗ của “những chiến binh” vừa chinh chiến về.

    Chúng ngồi quanh một cái thùng giấy khá lớn rồi lấy ba cái bánh mì vừa “xin” được đặt lên. Đứa giữ bọc bánh mì chạy về đây là anh hai của đám nhóc, bắt đầu xé ba ổ bánh mì ra để chia phần cho mọi người. Nó chia ba ổ bánh mì ra thành chín phần nhỏ, mỗi đứa một phần, còn một phần ai còn đói thì chia nhau ra ăn tiếp.

    Chúng ăn ngấu nghiến phần ăn của mình. Một phần là do ngày hôm qua chúng nó chẳng ăn được gì. Một phần là do những ổ bánh mì này thơm phức mùi sữa và trứng, hoàn toàn khác biệt so với đống bánh mì ôi thiu, bị mốc mà chúng mò được từ trong mấy cái thùng rác ngoài kia.

    Chúng ăn xong, vẫn còn một mẩu bánh mì nhỏ ở trên chiếc thùng giấy. Chúng nhìn nhau, chắc rằng đứa nào cũng muốn ăn nhưng lòng lại không cho phép để cho những người khác nhìn thấy. Đứa anh hai cũng biết rõ điều đó nên nó cầm mẩu bánh mì đó lên rồi mang qua chỗ mấy cái thùng nhỏ. Một tay cầm mẩu bánh, tay kia thì nó mò mò, tìm kiếm một cái thùng vừa ý. Rồi nó đã kéo ra một cái thùng rộng bằng vòng tay của nó. Nhờ mấy đứa nhỏ khác phủi bụi xong, nó đặt mẫu bánh mì vào trong rồi nó nhìn bọn nhỏ, cười tít cả mắt.

    - Rồi đó, từ giờ chúng ta sẽ để dành những mẩu còn thừa để vào chiếc hộp này. Hộp gì ta . . . Chúng ta nên gọi nó là gì?

    - Hộp tiết kiệm !

    - Nghe hay đấy, hộp tiết kiệm. Chúng ta sẽ để những thức ăn còn thừa ở đây. Rồi dần, chúng ta sẽ có một bửa ăn thịnh soạn.

    Đứa anh hai đồng tình với ý kiến của đứa bé gái đang ôm lấy cánh tay mình rồi nhìn xung quanh để xem mấy đứa khác thấy ý kiến đó ra sao. Cả lũ đứa nào cũng cười thật tươi và chẳng có đứa nào có ý kiến phản đối cả.

    - Em đồng ý với ý tưởng của anh hai, nhưng em không thích cái tên đó.

    Một đứa nhóc với làn da hơi trắng so với những đứa khác lên tiếng.

    - Tại sao chứ? Cái tên đó nghe rất hay mà.

    Đứa bé gái, người nghĩ ra cái tên “Hộp tiết kiệm” phản bác lại ý kiến trái chiều của đứa con trai kia.

    - Tại vì nghe nó không có ngầu gì cả ! Ta có thể gọi nó là “Chiếc hộp bất diệt” hay là “Toàn năng hộp” mà. Nghe chúng rất là mạnh mẽ và bá đạo phải không?

    - Không hề ! Nó nghe thật trẻ con và chẳng liên quan gì đến tác dụng của chiếc hộp này cả.

    Không để cho “Toàn năng hộp” chiến thắng, cô bé nhanh nhảu đáp lại ngay bằng lí luận nghe rất hợp lí của mình. Điều đó đã khiến cho cậu con trai đó cảm thấy rất khó chịu và bức bối.

    - Nhưng vẫn không thích đâu ! Nghe chẳng có tí xíu nào ra dáng đàn ông cả !

    - Nhưng nó là cái hộp mà !

    Chúng bắt đầu cãi cọ. Những hành động và lời nói con nít của chúng khiến cho cả đám cười đau cả bụng. Thế rồi đứa anh hai đặt tay lên đầu con bé gái, nói.

    - Vậy ta sẽ gọi nó là “Hộp tiết kiệm toàn năng” ha?

    Cả đám ngẩng người ra trước cái tên tuyệt đẹp mà anh mình vừa tạo ra bằng cách kết hợp hai cái tên của hai đứa ồn ào kia lại. Chúng đều hô to “Đồng ý” và cả đám bọn chúng cùng nhau trò chuyện cho đến rạng chiều. . .
     
    Last edited: Jun 19, 2017
    DokiDoki and GoD. like this.
  3. Mosereiy

    Mosereiy New Member

    Chương 1. Cảng Frieden và lũ ranh con chết tiệt ( phần 2.1 ).
    Bến cảng bỗng nổi gió to hơn thường ngày, làm cho đàn hải âu thường bay lượn trên bầu trời hay nghiêng mình xuống nước để bắt những con cá thân to béo bở nay lại gặp khó khăn trong việc di chuyển. Đối với những “mũi tên xét gió”, đó chẳng khác gì một trò đùa chết tiệt đến từ phía Thượng đế, kẻ đang cố phá bữa sáng ngon lành của chúng. Bầu trời hôm nay cũng rất cao, cao như tiết hét thất thanh của cô gái ở quầy bánh mì đằng kia ấy.

    - A ! Lũ nhỏ này !

    Một đám trẻ giật lấy ngay túi bánh mì của cô ngay khi cô vừa mới nhận lấy nó từ tay anh thợ làm bánh kia. Chúng nhanh chóng luồn lách qua dòng người đông đúc đi chợ rồi biến mất trong những con hẻm tối tăm, nồng mùi rêu và vị mặn của biển. Còn cô ta, người mua bánh thì sao? Chắc chắn là cô ta không phải là kiểu người tặc lưỡi một cái rồi bỏ qua cho lũ nhỏ rồi. Ả cứ đứng đó, chửi thề vài câu bằng tiếng Đức. Anh chàng chủ quầy chỉ khẽ cười một cái rồi đưa cho ả mấy cái bánh mì mà ả ta vừa bị cướp. Ả ta nhìn anh, cười rạng rỡ rồi nói vài câu cảm ơn. Song, ả ta đi về nhưng vẫn không quên châm vào một câu.

    - Anh biết đấy, bọm ranh đó lượn lờ chỗ anh cũng cả tuần nay rồi. Anh không định làm gì sao?

    Nghe ả nói thế, anh cũng chỉ cười trừ rồi lại bắt tay vào công việc của mình. Mà quả thật ả nói cũng chẳng sai. Kể từ lần đầu tiên chúng được nếm thử vị trứng và sữa nồng đượm trong cái bánh mì nhỉ nhắn của quầy anh, chúng đã “ghé thăm” vào mỗi buổi sáng, “xin” một phần ăn của một người nào đó mà chúng cho là có điều kiện, rồi chạy tọt về “mái nhà” của chúng. Anh thì lại không để bụng, dù cho anh phải mất thêm vài cái bánh để đền bù cho buổi sáng ngon lành của khách hàng mình. Người ta nói anh quá tốt, quá dễ tính với mọi người, lại càng quá dễ dãi với bọn trẻ. Bởi anh là một con người quá đỗi lương từ nên anh lúc nào cũng chỉ cười hề hề rồi nói : “Vài cái bánh có đáng bao nhiêu trong vài đồng trứng với sữa đâu mà.” Bản tính tốt bụng còn đi theo với khuôn mặt điển trai cùng với cơ thể cân đối, có biết bao là cô nàng đã rơi vào lưới tình của anh. Song, anh cũng chẳng phải là một tên đào hoa, lãng tử gì cả. Dù rằng anh có một mái tóc màu nâu hơi rối với đôi mắt đen sâu đến mức khiến người ta không thể rời mắt ra được.

    Anh có thói quen đơn giản đến kì lạ so với nhưng con người ở cái thành phố cảng Friedon này. Cứ mỗi lần làm việc xong, anh thường ra cảng ngồi châm thuốc rồi rít lên từng đợt khói phả vào trong không khí lạnh dù đang trong hè ở cái xứ Anh Quốc này. Cái lạ là do ở cảng thì chắc chắn là sẽ có gió. Nên cứ mỗi lần anh hút thì tha hồ mà ho sặc sụa. Người ta bảo anh vào trong nhà mà hút thì anh lại bảo sợ bánh mì bị ám mùi thuốc. Vả lại, anh thích ngồi đây, ngắm những con tàu hùng vĩ khởi hành ra khơi dưới ánh nắng mặt trời lúc hoàng hôn hơn là ngồi trong căn nhà xập xệ coi tivi.

    - Những con tàu dưới ánh hoàng hôn, cháu đang nghĩ về việc gì sao, Luis.

    Một ông bác mập mạp với một bộ râu quai nón màu bạch kim, trên tay cầm hai ly cà phê đi lại phía anh. Nhận lấy một ly, anh trả lời.

    - Không có gì đâu bác Johnson. Chỉ là cháu bỗng nghĩ đến vài thứ ở ngoài kia thôi.

    Bác Johnson nghe rồi cũng chẳng nói gì nữa. Hai người cứ đứng đó, im lặng ngắm những đợt sóng đập vào thành cảng, lắng nghe tiếng mấy chú hải âu đang lượn lờ trên bầu trời màu da cam để tìm chỗ đế trú qua đêm nay. Rồi khi đoàn thuyền đã đi khuất, anh mới cất tiếng kể lể.

    - Bác biết gì không bác Johnson. Dạo này có mấy đứa nhỏ hay đến quầy của cháu lắm.

    Bác Johnson quay sang nhìn anh, nhấp một ngụm lớn cà phê rồi hỏi.

    - Thế chúng ghé đến quầy cháu để làm gì.

    - Để cướp bánh từ những khách hàng của cháu. – anh đáp ngay tấp lự. – Vào mỗi buổi sáng, tính từ ngày này tuần trước.

    Bác Johnson vừa nghe xong thì bật cười thành tiếng, suýt thì làm rớt cả cốc cà phê đang uống dở.

    - Thế cháu đã làm gì?

    - Chẳng làm gì cả. Ngoại trừ việc cháu phải mất thêm vài cái bánh để đền cho mấy vị khách. – anh thở dài. – Nhưng nếu nói về việc cháu sẽ làm gì, thì có lẽ, cháu sẽ đóng cửa sớm vào ngày mai.

    Hiểu ý anh nên bác Johnson cũng chẳng nói thêm gì nữa, chỉ uống hết chỗ cà phê còn lại rồi quay bước đi về nhà. Vẫy vẫy tay chào bác xong, anh tiếp tục hướng mắt nhìn về một nơi xa xăm nào đó . . .

    .

    .

    .

    Vào ngày mai, anh vẫn mở quầy bán bánh như bình thường. Mọi thứ vẫn thật bình yên cho đến khi một đứa nhóc chạy đến giật lấy cái bọc đựng bánh mì nóng hổi của ông chú đeo kính, khiến cho gã giật mình mà té bẹp dưới đất. Anh ngay lập tức quay bảng “Mở hàng” thành “Đóng hàng”, rồi chạy ra khỏi quầy, bám theo đứa bé.

    - Bác trông quầy giúp cháu nhé bác Johnson.

    - Được thôi.

    Gã đang ngồi bẹp dưới đất chính là bác Johnson. Bác ta đứng dậy, phủi lớp bụi dính đầy trên đáy quần mình rồi gượng cười với mọi người xung quanh. Trong khi đó, Luis thì đang cố gắng bám theo cậu bé với khoảng cách không quá xa để nhóc ta khuất khỏi tầm mắt, nhưng cũng chẳng quá gần để rồi nó biết mà chạy nhanh hơn. Bởi lẽ, anh không muốn bắt nó đền mấy cái bánh mì mà anh phải tốn công làm ra. Anh còn một mục đích khác, không mấy là cao cả, nhưng chắc chắn cũng chẳng phải hèn hạ hay mưu mô gì.

    Rồi bỗng chốc, tên nhóc đó quẹo vào một con hẻm bé tí, làm cho anh khựng lại, chẳng tài nào qua được. Mò mò một hồi, anh quyết định trèo lên mấy cái thùng rác rồi nhảy tới, bám vào thánh cái bức tường nhà bên cạnh con hẻm. Anh cố gắng hết sức giữ bình sinh rồi bò bò trên bức tường vừa hẹp vừa thấp.

    Thằng nhỏ đã đi khỏi tầm mắt anh, nhưng đoán rằng, đi hết cái “đường hầm” này thì lòng vòng tí cũng kiếm ra thôi.

    Năm phút lay hoay trong đau đớn, anh cuối cùng cũng đã qua được đầu bên kia con hẻm với vài vết rách trên áo và quần.

    - Mệt quá . . . Mấy giờ rồi nhỉ? Biết vậy nãy đem theo đồng hồ là được rồi.
     
    DokiDoki likes this.
  4. Mosereiy

    Mosereiy New Member

    Chương 1. Cảng Frieden và lũ ranh con chết tiệt ( phần 2.2 ).
    Than thở một lúc, anh lại bắt đầu với việc đi lòng vòng qua con hẻm này đến con hẻm nọ. Chỗ này thật tối tăm, thật ra cũng chẳng đến mức như ngoài đường ban đêm không đèn, nó chỉ giống như là dưới bóng râm của một cái cây to chảng với các nhánh cây đầy lá, như muốn phủ kín cả bầu trời mà thôi. Chỉ khác ở chỗ, ở đây không phải là lá hay cành, mà là những mái gạch, mái tôn của những căn hộ xuống cấp ở xung quanh. Đi được chục bước thì sẽ thấy được vài tia nắng len lỏi qua những khe nứt của mái gạch, từ vết thủng của mái tôn. Nhưng cũng đừng quá bất ngờ khi thấy một khu “ổ chuột” ở một thành phố được đầu tư như ở đây. Ở đâu cũng vậy, có người giàu ắt có người nghèo. Có người ăn no, ngủ ấm thì chắc chắc rằng cũng sẽ có đầy gia đình phải làm lụng vất vả để có được miếng ăn ăn qua ngày. Nói qua ngày thôi thì còn là xa xỉ. Chính xác là có tí gì ra vị thức ăn thay cho lá cỏ hay mấy vụn bánh mì cướp từ lũ vịt dưới hồ là may mắn lắm rồi. Anh biết thế, nên anh mới không giận, không thấy bực khi tận mắt chứng khiến bánh của mình bị lấy mất. Anh chỉ cảm thấy buồn, không phải buồn vì mất bánh, chắc chắn rồi. Anh buồn vì còn những thắc mắc vụn vỡ trong đầu rằng : “Tại sao lũ trẻ lại phải đi trộm cướp thay vì được sống êm ấm như bao kẻ giàu có ngoài kia?”. Vì đó là cuộc sống, vì đó là cách mà Thượng đế cân bằng trật tự của thế giới này. Nhưng cũng chẳng ai biết được liệu rằng điều đó có đúng đắn hay là không? Việc lũ nhỏ đang chịu khổ ngoài tiết trời lạnh buốt bởi gió biển trong khi anh nói riêng, là một thanh niên trưởng thành, có thể chịu đói, chịu đau để có miếng ăn, lại đang có một cuộc sống không có mấy khó khăn. Anh đáng lẽ chẳng cần phải nghĩ tới việc đó, bởi lẽ, đó là cuộc sống. Nhưng, anh lại quá tốt, tốt đến nỗi lại trách mình vì cuộc sống người ta chẳng mấy là tốt đẹp.

    - Mệt quá, chỗ này cứ như mê cung vậy.

    Anh lại than thở, dựa lưng vào một bức tường đầy rong rêu và nấm mốc do lâu ngày chẳng được gội rửa.

    - Ngon không mấy đứa?

    - Ngon lắm anh hai. Khác hẳn với mấy quả hạt dẻ chiều qua.

    - Hahahaha. . .

    Anh nghe thấy có tiếng cười đùa của ai đó ở phía bên kia bức tường anh đang dựa. Mò theo tiếng nói, cuối cùng anh cũng dừng chân lại trước một “mái nhà” nhỏ của những “đứa ranh con” tuần qua. Một khung cảnh chẳng thể nào anh có thể diễn tả nó ra bằng lời. Một con hẻm rộng hơn những con hẻm vừa nãy. Chúng cười đùa, nói chuyện với nhau xung quanh một cái thùng giấy, dưới ánh nắng dịu nhẹ của mặt trời ban ngày. Anh chầm chậm đi tới. Vài đứa nhận ra anh rồi ngay lập tức thông báo cho những đứa khác. Tên anh hai liền lao lên phía trước mấy đứa em của mình, đưa hai cánh tay rám nắng của nó ra hai bên, như muốn bảo vệ toàn bộ thành viên trong gia đình mình.

    - N-Nếu anh muốn bắt đền mấy cái bánh mì, thì bọn tôi không có tiền để trả đâu. – nó, tên anh hai, nó. – Bánh mì thì chúng tôi cũng ăn hết rồi. Nếu anh bực mình quá thì cứ đánh tôi, đừng đụng tới tụi nhỏ.

    Nó nói cứ như là nó lớn lắm vậy. Nếu như không nhầm, anh đoán nó chỉ mới tầm có mười một hay mười hai tuổi gì đấy. Còn mấy đứa kia chắc cũng từ mười đổ lại. Nhìn thái độ kiên quyết, mạnh mẽ và không một chút lo sợ của nó làm anh vừa cảm thấy buồn cười nhưng cũng cảm thấy thật sự rất xúc động. Anh mỉm cười thân thiện rồi bắt đầu nói.

    - Anh chẳng đến đây để đòi lại mấy cái bánh mì mà mấy đứa đã lấy suốt tuần qua. – anh ngừng lại một tí khi nhìn thấy biểu hiện bất ngờ của lũ nhỏ phía trước. – Anh bám theo mấy đứa đến đây là để tìm hiểu hoàn cảnh của mấy đứa rồi mới tìm được cách để giúp.

    - Anh . . . muốn “lúp” tụi em ư?

    Đứa bé gái đang nấp sau tấm lưng của anh trai mình bỗng chui đầu ra nhìn anh hỏi. Anh ngây người ra, gãi gãi đầu rồi nhìn qua đứa anh hai.

    - À, ý em ấy là “Anh muốn giúp tụi em ư?” – nó giải thích. – Do em ấy còn nhỏ nên chưa thể nói rõ ràng được.

    Anh nhìn sang cô bé, rồi nhìn một lượt hết lũ nhỏ. Rồi anh bước đến tụi nó, chắc chắn rằng chúng sẽ lùi lại theo từng nhịp mà anh bước tới rồi. Nhưng mà, chân của một tên thanh niên đã hai mươi tám tuổi và một đám con nít. Chúng có lẽ không nhận ra, nhận ra việc anh đã đưa bàn tay mình đặt tay lên đầu đứa bé gái ấy.

    - Phải. – anh nói một cách quả quyết, không ngân dài, không có tí nào là không thể tin tưởng. Một từ, chỉ với một từ “Phải” mà ai tưởng chừng cũng có thể nói ra dễ dàng, lại có thể khiến cho lũ trẻ giật hết cả mình lên. Đôi mắt chúng rung rung, không phải vì sợ hại, càng chắc chắn không phải là do anh trông đáng sợ hay hung dữ. Chúng cảm động, chúng muốn khóc để thể hiện cái cảm xúc đang muốn dâng trào ra khỏi lồng ngực nhỏ bé của chúng. Nhưng điều đó là không thể, cho nên chúng mới khóc, khóc để cho những giọt lệ mặn như nước biển cuốn cảm xúc của mình ra cho anh ta thấy.

    Nghi ngờ, chắc chắn là có. Không nhiều, nhưng nói chung là có. Bởi lẽ, suốt khoảng thời gian sống ở con hẻm vắng vẻ, lạnh lẽo này, đã bao giờ có ai nhìn thấy chúng đâu. Không phải là không thể nhìn thấy chúng, chúng không phải là ma, cũng chẳng phải là sợ hãi mà né tránh những con người kia. Mà là do, họ cố tình không nhìn thấy chúng. Để mặt cho những đứa trẻ gầy gò, ốm yếu do cái đói và cái lạnh thấu xương vào những ngày có tuyết mấy năm trước. Chúng cầu xin, thậm chí là còn hôn lên đôi giày hôi thối của bọn người ấy. Nhưng những gì chúng nhận được sau cùng cũng chỉ là những tiếng thét và la mắng của bọn du côn, vô nhân tính ấy.

    Ban đầu, vì cái ăn, vì lẽ sống, chúng đã cố gắng van nài dù cho bị mắng, bị đập đi chăng nữa. Nhưng về sau, khi chúng đã có nhận thức rõ hơn về trái tim của lũ người lớn ngoài kia. Chúng đã không còn đi xin xỏ thức ăn nữa. Thay vào đó, chúng bắt đầu đi mò những vụn bánh mì mà mấy đôi tình nhân hay đứng trên cây cầu nhỏ ném xuống cho lũ vịt ăn. Đôi lúc chúng có hay tự hỏi rằng tại sao lại lãng phí mấy cái bánh mì ngon lành kia để cho lũ vịt mà lại tiếc tí xíu thức ăn dành cho chúng. Trong khi chúng chỉ là những đứa con nít, chưa thể làm việc để kiếm tiền, cũng chưa thể săn bắt để kiếm ăn. Còn lũ vịt thì lại có khả năng bắt cá để sinh tồn qua ngày.

    Rồi một ý nghĩ thoáng qua đã giúp chúng biết được lí do. Chính xác hơn lại lí do mà chúng phải chịu thiệt như vậy.

    Bởi vì chúng bị chính những con người kia vứt bỏ ra đường.

    Cái ngày mà đứa anh hai cũng hai đứa sinh đôi kia đi cướp bánh mì lần đầu tiên. Đó cũng là lần chúng đã từ bỏ hy vọng tìm được một người tốt bụng sẽ giúp đỡ chúng. Nói đơn giản hơn, chúng đã mất hết sự tôn trọng đối với lũ người ngoài con hẻm.

    .

    .

    .

    - Phải. Anh muốn giúp mấy đứa vượt qua khỏi cái tình trạng khó khăn này.

    Anh đứng thẳng người dậy, đôi mắt anh sâu thẳm như nói lên mọi thứ anh muốn làm và sẽ làm.

    - Anh sẽ cố gắng tìm cho mấy đứa một chỗ ngủ. Nhưng chắc chắn là anh sẽ không thể hoàn thành ngay trong ngày hôm nay được. Nên lát nữa anh sẽ chạy về lấy cho mấy đứa vài cái bánh mì để ăn và mấy cái mền để trú hết tối ngày hôm nay.

    Rồi anh quay lưng lại, không quên dặn vài điều.

    - Mấy đứa cứ ở lại đây, anh sẽ cố gắng quay lại sớm nhất có thể.

    Anh định chạy đi thì có một bàn tay nắm lấy sợi dây tạp dề của anh.

    - Để tôi đi với anh.

    Bàn tay ấy chính là của đứa anh hai. Anh quay lại nhìn nó rồi mỉm cười nói.

    - Thế nhóc không sợ anh mang nhóc ra tòa à?

    - Còn đỡ hơn là việc anh kéo tất cả mọi người bắt hết bọn tôi đi.

    - Nhóc dũng cảm thật đấy. Thôi thì đi nhanh kẻo nắng.

    Anh định chạy đi thì lại bị kéo ngược lại. Đứa anh hai chỉ chỉ vào một cái hộp to tướng rồi nói đó là lối đi bí mật. Nó đi đến, mở cái nắp cái thùng ra rồi chui vào bên trong, không quên nói lời tạm biệt với lũ em. Anh cũng chẳng thắc mắc gì nữa mà chui vào theo nó. Bò được một đoạn ngắn, họ đã ra được con hẻm mà anh đã phải vất vả lắm mới băng qua được. Nghĩ lại, anh lắc đầu mệt mỏi. Rồi anh chạy, nhưng không hết sức. Vì anh còn phải nghĩ tới cái chân ngắn của một đứa nhóc chập chững mười hai nữa.

    Chạy tầm hơn năm phút, họ đã về đến quầy bánh. Cửa không khóa, vì có bác Johnson đã giữ quầy cho anh. Mang đứa anh hai vào, anh không quên lên tiếng chào bác Johnson rồi vội và lấy ba bốn cái chăn gấp lại đưa cho nó. Anh còn ra quầy bánh, lấy thêm hơn chục cái bánh mì dài rồi bỏ vào đống bọc dưới chỗ thanh toán.

    - Nhóc muốn nghỉ mệt tí không?

    - Không ạ.

    Sau cuộc hội thoại ngắn ngủi, họ lại tiếp tục chạy về với bọn nhỏ đang chờ.

    Tới nơi, anh đặt đống bọc bánh mì xuống cái “bàn” rồi nhận lấy mấy cái chăn mà đứa anh hai đang cầm, chải lót xung quanh cái “bàn” ấy.

    - Mấy đứa ngồi lên đi.

    Đợi chúng ổn định vị trí, anh bắt đầu lấy mấy mấy cái bánh mì ra, mỗi đứa một cái, anh một cái là tổng cộng mười cái. Chúng nó kêu lên sung sướng, vì trước giờ, mỗi đứa chỉ có một mẫu nhỏ, ăn là chỉ cho biết mùi, biết vị nó như thế nào chứ có đủ no đâu. Toàn phải ăn lá cây và uống nước để bù cho cái bụng còn rỗng.

    Anh vui vẻ, nói chuyện cười đùa với chúng. Nói chúng ăn từ từ thôi, vì ăn xong thì vẫn còn có thể ăn tiếp cơ mà. Chúng vừa nhai vừa vui vẻ trả lời anh rằng : “Chúng em có thể ăn được cả thế giới ấy chứ !”. Vậy mà chỉ trong nửa tiếng vừa ăn vừa tám, chúng đã nằm vật ra vì no. Có hai ba đứa thì chỉ mới ăn được có một nửa, nên anh để lại vào bọc, có gì lấy ra ăn tiếp.

    Anh đứng dậy, nói với bọn chúng là anh đi ra gọi điện một chút. Tụi nó vẫy tay chào anh, anh cũng vẫy ngược lại trong khi tay kia đang bấm số.

    .

    .

    .

    Khi anh quay lại, bọn nhỏ đã đứa tựa tường, đứa nằm bẹp ra, đứa thì nhẹ nhàng lấy vai người kia làm gối mà lăn quay ra ngủ cả rồi. Anh cố gắng nhịn cười trước vẻ mặt của bọn chúng khi ngủ. Rồi anh ngồi xuống, quơ lấy tờ báo ở đống thùng giấy lộn xộn kế bên.

    Hôm nay là một ngày bình yên như bao ngày. Chỉ có điều, anh đã cảm thấy nó có vẻ bớt nhàm chán hơn. Chỉ vậy thôi . . .

    .

    .

    .

    - Mà hình như chưa biết tên của tụi nó nhỉ?
     
    DokiDoki likes this.